TÌM KIẾM NÂNG CAO

Upload

Quản trị chuỗi cung ứng, Các phương pháp và kỹ thuật phân tích chuỗi cung ứng

 

 

 

CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ KỸ THUẬT PHÂN TÍCH CHUỖI CUNG ỨNG

Việc quản trị chuỗi cung ứng đạt hiệu suất cao đòi hỏi phân tích toàn diện thường xuyên những chiến lược và hoạt động của chuỗi cung ứng. Việc phân tích thiết kế chuỗi cung ứng bao gồm đánh giá chiến lược về những giải pháp chuỗi cung ứng khác nhau như là tìm nguồn cung ứng, địa điểm đặt nhà máy, địa điểm đặt nhà kho và các vùng thị trường phục vụ và quan trọng hơn cả là tối ưu hóa các luồng hàng cho chuỗi cung ứng toàn cầu. Sự mô phỏng linh hoạt có thể được sử dụng để kiểm tra tính linh hoạt của hàng hóa lưu kho ở nhiều giai đoạn như là hàng hóa giữa các nhà cung cấp, các nhà máy và các nhà kho và việc phân tích vận tải chiến lược hỗ trợ việc định tuyến đường và lập kế hoạch. Việc thường xuyên phân tích các tuyến đường vận tải là cần thiết để đáp ứng được những thay đổi về giá cước và cân bằng các luồng vận chuyển; những phân tích về lưu kho chiến thuật là cần thiết để chỉ ra những danh mục hàng hóa với lượng lưu kho dư thừa và để chỉ ra những mức độ mục tiêu lưu kho phù hợp. Đối với phạm vi những quyết định này, các phần sau đây mô tả những câu hỏi cụ thể, các kỹ thuật phân tích thay thế và các yêu cầu dữ liệu điển hình.

Những quyết định về thiết kế

Các nhà quản trị hệ thống vận tải lưu kho và chuỗi cung ứng thường xuyên phải đối mặt với những quyết định có liên quan đến thiết kế quy trình và mạng lưới hoạt động cho những mục tiêu trước mắt và lâu dài. Mạng lưới chuỗi cung ứng bao gồm việc kết hợp những nhà cung cấp, các nhà máy sản xuất, các nhà kho, các điểm hợp nhất, nàh cung cấp dịch vụ và những nhà bán lẻ mang sản phẩm từ khâu nguyên liệu thô tới khách hàng cuối cùng. Quyết định mở rộng bao gồm hàng hóa và các luồng sản phẩm cũng như việc xác định nơi nào mà hoạt động gia tăng giá trị cụ thể sẽ diễn ra trong chuỗi cung ứng. Việc xuất hiện những nguồn nguyên vật liệu thay thế, tính kinh tế và quy mô sản xuất, giảm thiểu vận tải và các giải pháp khác nhau đối với những nhà cung cấp dịch vụ tích hợp đã làm tăng nhu cầu để đánh giá thường xuyên và toàn diện hơn. Về những giải pháp thiết kế chuỗi cung ứng. Trong những năm gần đây, việc phân tích thiết kế chuỗi cung ứng đã mở rộng hơn bao gồm cả việc thiết kế các kênh tiếp thị như 1 kết quả của việc xem xét tìm nguồn cung ứng và tiếp thị toàn cầu. Ví dụ, rất nhiều hãng đang nghiên cứu việc sử dung các kênh khác nhau để thâm nhập thị trường như là giao hàng tại nhà. Việc phân tích thiết kế chuỗi cung ứng có thể được sử dụng để chỉ ra tổng chi phí về những hoán đổi trong việc xem xét những chiến lược kênh thay thế, hoạt động thuê ngoài hoặc nhờ gia công. Các hoạt động toàn cầu cũng làm tăng đáng kể sự phức tạp của việc thiết kế chuỗi cung ứng và tầm quan trọng của việc đánh giá chính xác về việc “ hoán đổi” chuỗi cung ứng. Vì vậy, tàm quan trong của việc tiến hành phân tích thiết kế chuỗi cung ứng một cách thường xuyên cũng tăng lên đáng kể.

Những quyết định về thiết kế chuỗi cung ứng cần tập trung vào việc lựa chọn số lượng và địa điểm nhà máy, nhà kho và các điểm nút chuỗi cung ứng khác. Những câu hỏi về quản lý chính bao gồm:

1.     Những nhà máy sản xuất nên được đặt ở đâu và những sản phẩm nào nên được sản xuất?

2.     Có bao nhiêu nhà kho hãng nên sử dụng và chúng nên đặt ở đâu?

3.     Những khách hàng hoặc những khu vực thị trường nào nên được phục vụ từ mỗi nhà kho?

4.     Những loại sản phẩm nào nên được sản xuất và lưu kho cho mỗi nhà máy hoặc nhà kho?

5.     Vai trò của những trung tâm phân phối chính hoặc địa phương có liên quan như thế nào tới những nhà kho địa phương hoặc chuyển tải?

6.     Những nguồn và kênh tiếp thị nào nên được sử dụng để tìm nguồn nguyên liệu và phục vụ thị trường quốc tế?

7.     Những sự kết hợp nào của trang thiết bị những nhà kho tư nhân và nhà kho công cộng nên được sử dụng?

8.     Những nhà cung cấp dịch vụ nào và những dịch vụ giá trị gia tăng nào nên được sử dụng để đáp ứng nhu cầu thị trường?

Một thiết kế điển hình chuỗi cung ứng đồi hỏi những phân tích chỉ ra kết hợp từ những câu hỏi trên.

Những vấn để điển hình về thiết kế chuỗi cung ứng có thể được mô tả rất phức tạp và cần nhiểu dữ liệu. Sự phức tạp được tạo ra bởi số lượng nguồn cung ứng, các nhà máy, các nhà kho, thị trường và những giải pháp về sản phẩm có thể được cân nhắc, sự dày đặc về dữ liệu được tạo ra bởi việc phân tích đòi hỏi dữ liệu chi tiết về nhu cầu khách hàng và hệ thống vận tải cho những chiến lược hiện có như cho những giải pháp thay thế tiềm năng. Những mô hình phức tạp và kỹ thuật phân tích phải được sử dụng để giải quyết hiệu quả với tính phức tạp và lượng dữ liệu lớn cần thiết cho việc chỉ ra giải pháp nào tốt nhất. Những hệ thống hỗ trợ ra quyết định được sử dụng để đánh giá những thay thế thiết kế chuỗi cung ứng nói chung là ở dạng phương trình tối ưu về toán học. Những yêu cầu chung về dữ liệu và hệ thống vận tải nói chung được miêu tả dưới đây.

Thiết kế hệ thống vận tải

Những kỹ thuật thiết kế chuỗi cung ứng nói chung sử dụng những dạng tối ưu hóa để đánh giá một cách có hệ thống các giải pháp trong quá trình thiết kế. Những giải pháp khác nhau về thiết kế là sự kết hợp của các yếu tố như nhà cung cấp, các nhà máy, nhà kho và những chiến lược lưu kho hàng hóa. Sự tối ưu hóa bằng hỗn hợp hoặc tuyến tính là những kỹ thuật phổ biến được sử dụng để lựa chọn một số những giải pháp dùng được với những ràng buộc cụ thể. Tối ưu hóa số nguyên hỗn hợp là phương pháp phố biến nhất vì nó có thể làm cho một số biến trở thành số nguyên để đòi hỏi những nhà kho đóng hoặc mở cửa.

Những mô hình tối ưu hóa xem xét tổng nhu cầu của khách hàng, tổng cung sẵn sàng (thông qua cả việc mua bán hoặc sản xuất), những sản phẩm tốt và những luồng thông tin và những địa điểm trung chuyển, những thay thế về vận tải và chi phí và những chi phí biến đổi ví dụ như việc xử lý nhà kho và thuế.

Những công cụ thiết kế mạng lưới chuỗi cung ứng đánh giá một cách có thể thống những cách két hợp mạng lưới khác nhau trong khi vẫn xem xét đến những ràng buộc có liên quan. Trong phạm vi những vấn đề có liên quan, việc phân tích bao gồm những chi phí biến đổi và chi phí cố định từ hoạt  động của các thành phần, ví dụ như nhà cung cấp, nhà máy sản xuất, nhà kho, các điểm hợp nhất, vận tải, bốc dỡ hàng, sản phẩm và lưu kho.

Hình 12.2: Tiếp cận theo phương pháp tổng chi phí

Các công cụ phần mềm để thực hiện các phân tích cho thiết kế và xây dựng mạng lưới chuỗi cung ứng luôn luôn được cải tiến và cập nhật. Vì vậy, rất hó cho bất kỳ cuốn sách  giáo khoa nào để có thể cung cấp những thông tin cập nhật về những phần mềm thiết kế hiện có. Tuy nhiên, có rất nhiều bài viết chuyên đề miêu tả những công cụ và ứng dụng của chúng cho rất nhiều các tổ chức. Ngoài ra cũng có số lượng ngày càng tăng các công cụ thiết kế mạng lưới vượt qua chi phí tối thiểu để bao gồm những tính toán như tối thiểu hóa lượng khí thải carbon. Hình 12.2 minh họa phamj vi của một phân tích thết kế chuỗi cung ứng điển hình. Những ràng buộc chính của thiết kế chuỗi cung ứng bao gồm những nhu cầu của thị trường vùng, khả năng sản xuất của nhà máy, khả năng lưu trữ của nhà kho và chiến lược lưu kho sản phẩm. Mặc dù có những giá trị của việc tối ưu hóa, việc lập trình tuyến tính đối mặt với một số vấn đề quan trọng khi giải quyết những thiết kế vận tải lưu kho phức tạp. Đầu tiên, để định dạng một thiết kế toàn diện, cần thiết phát triển các mối quan hệ chức năng rõ ràng cho tất cả các lựa chịn về thiết kế. Các mối quan hệ chức năng cần phải cân nhắc tất cả cấc kết hợp có thể cho những nhà cung cấp, địa điểm sản xuất, địa điểm phân phối, nhà bán buôn, thị trường và sản phẩm. Số lượng tuyệt đối của các giải pháp thay thế và những ràng buộc liên quan dẫn đến kết quả rất nhiều vấn đề lớn. Thứ hai, những tính năng tối ưu của kỹ thuật là tương đối, tức là nó chỉ có hiệu lực như một định nghĩa vấn đề và thiết kế. Quá nhiều những giả định đơn giản có thể tạo nên một giải pháp toán học tối ưu nhưng không có nhiều giá trị trong thực tế. Thứ ba, khả năng của những giải pháp lập trình tuyến tính hiệ có bị giới hạn bởi số lượng những các cấp hoặc giai đoạn trong chuỗi cung ứng và kích cỡ của vấn đề. Ví dụ, những vấn đề đòi hỏi những luồng phân tích từ những địa điểm sản xuất tới nhà kho và sau đó tới thị trường (ví dụ ba cấp bậc) có thể được giải quyết dễ dàng bởi những công cụ tối ưu hóa. Tuy nhiên, những giới hạn về kích cỡ có thể làm cho khó khăn để thực hiện một phân tích hoàn chỉnh về chuỗi cung ứng.

Như đã thảo luận từ trước trong chương, giai đoạn phân tích của quá trình này bao gồm việc chỉ ra những công cụ phù hợp, những yêu cầu về dữ liệu và đánh giá những giải pháp thay thế. Mối nhiệm vụ được thảo luận bên dưới.

Lựa chọn công cụ

Một phân tích thiết kế chuỗi cung ứng nói chung bắt đầu với sự lựa chọn một công cụ mô hình thích hợp. Trong khi những giải pháp công nghệ như lập trình số nguyên hỗn hợp có thể được sử dụng, việc thiết kế chuỗi cung ứng vừa phải mang tính đặc thù riêng vừa phải có tính chung phổ biến do đó khi thiết kế chuỗi cần tìm các công cụ có tính tùy chọn. Có một số gói giải pháp ứng dụng trên máy tính có thể được sử dụng để đánh giá hiệu quả của những giải pháp khác nhau của chuỗi cung ứng. Ballou và Masters đã hoàn thiện một số cuộc khảo sát ghi lại sự sẵn có của công cụ này. Những công cụ thiết kế thường khác nhau về năng lực, tính linh hoạt, đồ họa, tốc độ giải quyết. Những công cụ phân tích này có thể được mua hoặc thuê với những giới hạn về sử dụng. Nói chung, các công cụ cố gắng chỉ ra sự kết hợp của những nhà máy và những điểm phân phối thay thế có thể tối thiểu hóa chi phí trong khi vẫn hoạt động trong khuôn khổ những nhu cầu và ràng buộc về cơ sở vật chất.

Yêu cầu về dữ liệu

Những yêu cầu về dữ liệu phân tích thiết kế chuỗi cung ứng cơ bản bao gồm những sản phẩm thị trường, mạng lưới, nhu cầu khách hàng, giá cước vận tải và những định nghĩa khác nhau về chi phí biến đổi và chi phí cố định.

Phân tích thiết kế chuỗi cung ứng đòi hỏi rằng những yêu cầu được phân loại hoặc được phân bổ cho những thị trường dịch vụ theo địa lý. Sự kết hợp của những khu vực địa lý tọa thành một khu vực dịch vụ vận tải và lưu kho. Một khu vực có thể là một quốc gia hoặc một thị trường toàn cầu. Nhu cầu đối với mỗi khách  hàng được gắn liền với một trong những khu vực thị trường đó. Việc lựa chọn một phương pháp định nghĩa thị trường là một yếu tố quan trọng của quy trình thiết kế hệ thống. Hình 14.3 minh họa làm thế nào Hoa Kỳ có thể được tách ra thành các khu vực thị trường để phân tích chuỗi cung ứng. Mỗi chấm đại diện cho một tập hợp của các nhu cầu. Một số cấu trúc về định nghĩa thị trường đã được phát triển. Các cấu trúc hữu ích nhất cho mô hình chuỗi cung ứng là (1) địa hạt (tỉnh/ thành phố), (2) khu vực thống kê đô thị đạt tiêu chuẩn, (3) zip hoặc mã bưu chính. Mã bưu chính là những mã quốc tế tương đương của mã zip. Cấu trúc phổ biến nhất sử dụng zip hoặc mã bưu điện khi hồ sơ công ty thường bao gồm thông tin đó. Ngoài ra, chính phủ mở rộng và những dữ liệu vận tải được bởi mã zip. Những vấn đề chính để lựa chọn một tiếp cận về định nghĩa thị trường đó là số lượng những khu vực được yêu cầu để cung cấp những kết quả chính xác. Trong khi càng nhiều thị trường thì càng cung cấp độ chính xác thì nó cũng làm tăng những nỗ lực phân tích và thời gian. Những nghiên cứu chỉ ra rằng với khu vực bắc Mỹ, có xấp xỉ 200 thị trường cung cấp một đánh đổi hiệu quả giữa sự chính xác và những nỗ lực phân tích.

Định nghĩa về sản phẩm đề cập đến số lượng lưu giữ cần để hoàn thiện việc phân tích. Mặc dù thông tin về từng mã hàng có thể được xem xét trong việc thực hiện phân tích thiết kế chuỗi cung ứng, nhưng cách làm này thường là không cần thiết. Những mặt hàng riêng lẻ, đặc biệt là những hàng có những đặc điểm phân phối tương tự, những vị trí sản xuất và những xắp xếp kênh phân phối, có thể được nhóm lại hoặc tổng hợp để đơn giản hóa việc phân tích. Những phân tích chuỗi cung ứng điển hình được hoàn thành ở mức độ nhóm các sản phẩm  thay vì xem xét đến từng sản phẩm riêng lẻ. Việc tổng hợp các mã hàng đơn lẻ thành các nhóm dòng sản phẩm làm giảm những phức tạp về phân tích và vì vậy việc thu thập dữ liệu và các công cụ tối ưu hóa hoạt động đúng tiến độ.

 

Hình 11.4: Minh họa mạng lưới kênh

Những định nghĩa về mạng lưới chỉ ra những thành viên tham gia vào kênh phân phối, những tổ chức và những địa điểm có thể được thêm vào việc phân tích. Các vấn đề cụ thể liên quan tới việc kết hợp các nhà cung cấp, các nhà sản xuất, nhà kho, nhà bán buôn và các nhà bán lẻ bao gồm. Định nghĩa về mạng lưới cũng bao gồm việc xem xét những nhà máy mới, nhà kho, hoặc những kênh thành viên thay thế. Hình 11.4 minh họa một kênh cho khách hàng lẻ và khách hàng công nghiệp. Trong khi sử dụng một định nghĩa toàn diện hơn là giảm cơ hội tối ưu hóa hiệu suất của những chức năng hoặc nhóm chức năng riêng lử có trong hệ thống, việc phân tích thiết kế hệ thống làm tăng sự phức tạp, kết quả thu thập nhiều dữ liệu mở rộng hơn và thời gian giải quyết vấn đề dài hơn. Các nhà phân tích chuỗi cung ứng phải đánh giá những đánh đổi giữa việc tăng tính phức tạp của phân tichd và cải thiện những tiềm năng cho việc tối ưu hóa tổng chuỗi cung ứng.

Nhu cầu của thih trường chỉ ra khối lượng hàng vận chuyển cho mỗi khu vực địa lý, được gọi là thị trường. Cụ thể, việc phân tích chuỗi cung ứng dựa trên khối lượng sản phẩm tương đối được vận chuyển tới mỗi thị trường. Trong khi khối lượng có thể là số lượng các đơn vị hoăkc thùng hangg được chuyển tới mỗi thị trường, thì ở phần lớn các phân tích lại dựa trên trọng lượng, bởi vì chi phí vận tải bị ảnh hưởng mạnh bởi trọng lượng vận tải

Nhu cầu thị trường sử dụng trong phân tích có thể dựa trên các lô hàng trước đó hoặc khối lượng dự kiến nếu những thay đổi không đáng kể có thể diễn ra. Nhu cầu thị trường có thể tính toán đưa vào những kích cỡ lô hàng khác nhau vì chi phí vận tải bị ảnh hưởng đáng kể bởi kích cỡ lô hàng.

Mức giá vận tải trong nước và ngoài nước là nguồn dữ liệu yêu cầu chính về chuỗi cung ứng. Những mức giá cần phải được cung cấp cho mỗi lô hàng giữa những thành viên chuỗi cung ứng tiềm năng và hiện có của thị trường. Ngoài ra, những mức giá cần phải đạt được phát triển cho kích cỡ mỗi lô hàng và cho mỗi kết nối vận tải tiềm năng giữa  những nhà kho hiện tại, nhà kho thay thế và thị trường. Phân tích chuỗi cung ứng thông thường cần hơn 1 triệu thông tin về mức giá khác nhau. Bởi vì số lượng lớn, các mức giá nói chung được phát triển dựa trên hồi quy hoặc thu thâp từ các tài liệu về cước vận chuyển.

Các chi phí biến đổi và các chi phí cố định liên quan tới những nhà máy sản xuất hoạt động và các nhà kho là những yếu tố chính cuối cùng của thiết kế chuỗi cung ứng . Chi phí biến đổi bao gồm các chi phí liên quan đến lao động, máy móc và nguyên vật liệu. Nói chung , các chi phí biến đổi là hàm của những yếu tố đầu vào. Chi phí cố định bao gồm  chi phí liên quan đến trang thiết bị, máy móc, chi phí giám sát. Trong một nhà máy có liên quan và các loại cớ sở vật chất nhà kho hoạt động, những chi phí cố định duy trì tương đối ổn định và chi phí biến đổi không có sự khác biệt đáng kể, tuy vận vẫn cần có những xem xét về mặt địa lý để đảm bảo kết quả phân tích chính xác. Những khác biệt chính bắt nguồn từ đặc thù địa lý bao gồm: tiền lương, chi phí năng lượng và giá trị đất và thuế.

Một yếu tố khác đang ngày càng ảnh hưởng tới việc thiết kế mạng lứoi chuỗi cung ứng là thuế. Một vài thành phố và đất nước, đặc biệt là những nơi tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế, đang sử dụng những công cụ ưu đãi thuế hấp dẫn các doanh nghiệp xây dựng hoạt động chuỗi cung ứng và những hoạt động tuyển dụng có liên quan. Sự ưu đãi thuế có thể ở dạng giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế bất động sản và thuế gía trị gia tăng. Những quốc gia rất thành công với những chiến lược trên bao gồm Ailen, Xingapo và các vương quốc Ả Rập thống nhất.

Đánh giá các giải pháp khác nhau

Phân tich thiết kế một chuỗi cung ứng điển hình là việc đánh giá số lượng lớn các giải pháp thay thế, thậm chí cho một phân tích tương đối nhỏ ví dụ như doanh nghiệp muốn cân nhắc tất cả các kết hợp của 10 trung tâm phân phối khác nhau. Có 6,2 triệu biến khác nhau từ 10 sự kết hợp khác nhau của 1 trung tâm phân phối kết hợp với 1 trong 10 trung tâm đó. Nếu mất  một phút để đánh giá mỗi phương án này thì ta cần 11 năm để nghiên cứu tất cả các lựa chọn. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng cảu việc đánh giá tính khả thi đã được thảo luận trước đó. Điều này thậm chí không bao gồm khả năng tìm kiếm những kết hợp của những nhà cung cấp khác nhau hoặc những nhà máy sản xuất khác nhau.

Hình 11.5: Mạng lứoi chuỗi cung ứng cơ sở

Phân tích cơ bản bắt đầu bằng viẹc xác nhận các chi phí là thiết lập độ tin cậy của công cụ phân tích.  Hình 11.5 minh họa những kết quả ban đầu của một hệ thống chuỗi cung ứng với hai nhà máy và nhà kho. Hình minh họa cho một chuỗi cung ứng với một nhà máy và một nhà kho ngay kề bên tại Pensylvania và Iova. Như đã nói trong hình, kết quả thực hiện của kịch bản này là 66,9 triệu đô và khoảng cách trung bình là 742 dặm. trong khi những công cụ thiết kế chuỗi cung ứng cung cấp dữ liệu kết quả về chi phí, dịch vụ báo cáo theo khoảng cách hoặc thời gian tới thj trường là đo lường tỷ lệ hoàn thành/ đáp ứng đơn hàng. Khoảng cách là một biến đại diện cho thời gian luân chuyển từ nhà kho tới khách hàng. Trước khi điều tra những kịch bản khác, những kết quả này nên được so sánh với dữ lệu lịch sự của hãng để chỉ ra nếu những chi phí của mô hình cung cấp một đại diện phù hợp với những hoạt động thực tế của hãng. Nếu những chi phí lịch sử và theo mô hình không cân bằng hợp lý, bất cứ khác biệt nào đều phải được điều tra để chỉ ra những lỗi tiềm năng hoặc cung cấp một số giải thích. Sự chính xác hợp lý là quan trọng để xây dựng sự tín nhiệm về quản lý.

Các giải pháp có thể được mô hình hóa để nghiên cứu các lựa chọn thiết kế chuỗi cung ứng khác nhau. Trong một số trường hợp, những công cụ thiết kế chuỗ cung ứng có thể đánh giá một cách hệ thống những giải pháp thay thế ví dụ như chỉ ra con số tối ưu của những nhà kho giữa 3 và 10. Trong các trường hợp khác, khi xem xét số lượng hỗn hợp các nhà máy sản xuất hoặc hỗn hợp các sản phẩm, việc phân tích phải chỉ ra và đánh giá mỗi lựa chọn một cách riêng biệt. Điều này một lần nữa nhấn mạnh nhu cầu đánh giá kỹ từng phương án về tính khả thi của nó để không cần thiết phải hoàn thiện một đánh giá cụ thể đối với tất cả các phương án khác nhau trong bối cảnh có những phương án có tính khả thi thấp.

Hình 11.6: Minh họa một thiết kế chuỗi cung ứng được rà soát lại dựa trên tình huống thảo luận trước đó

Kết quả chỉ ra rằng một chuỗi cung ứng với 3 nhà máy và 4 nhà kho sản lượng đạt hiệu suất cao hơn so với trường hợp cơ sở. Như các số liệu lưu lại, tổng chi phí đã giảm xuống còn 61.8 triệu đo với khoảng cách trung bình giữa các kho và khách hàng là 428 dặm. Trong  trường hợp này, việc thiết kế chuỗi cung ứng thay thế có thể cải thiện cả dịch vụ, về khoảng cách tới khách hàng và giảm tổng chi phí.

Mặc dù, các công cụ thiết kế chuỗi cung ứng đang ngày càng tinh vi, có một vài vấn đề cần phải được xem xét về ứng dụng của chúng. Đầu tiên, liên quan đến việc xử lý chi phí luân chuyển hàng lưu kho. Chi phí lưu chuyển hàng lưu kho về lý thuyết sẽ  sẽ tăng theo tỷ lệ giảm dần khi số lượng những trung tâm phân phối tăng lên. Trong khi điều này thường là đúng, thì có thể vẫn có những ngoại lệ. Ví dụ: một trung tâm phân phối khu vực được sử dụng để cung cấp lượng hàng lưu kho dự phòng cho các hàng hóa vận chuyển chậm đối với một hệ thống hiện có 5 nhà kho. Mặc dù tổng số nhà kho được tăng lên 6 và có thể mức độ dịch vụ khác hàng không thay đổi khi mà tổng lượng hàng lưu kho sẽ thực sự giảm bởi lúc này toàn hệ thống có một kho hàng dự phòng chung. Tương tự như thế, rất nhiều những công cụ thiết kế chuỗi cung ứng không có những quy trình tiêu chuẩn hóa để chỉ ra những tác động tới hàng lưu kho của các phương án thay thế khác nhau.Bởi vì không có các quy trình tiêu chuẩn, vì vậy rất quan trọng phải hiểu được và có những điều chỉnh phù hợp với chi phí lưu chuyển hàng lưu kho được tính toán bởi những công cụ thiết kế chuỗi cung ứng.

Điều thứ hai liên quan đến những thay đổi trong các giả định liên quan tới kích cỡ lô hàng. Phần lớn các công cụ thiết kế chuỗi cung ứng sử dụng một kích cỡ lô hàng cho mỗi tuyến đường vận tải. Trong khi điều này có thẻ chấp nhận được khi mà số lượng các trung tâm phân phối không thay đổi đáng kể, tuy nhiên điều này không còn phù hợp nếu có sự thay đổi đáng kể về số lượng nhà kho. Ví dụ, nếu lô hàng hiện tại giữa một nhà máy và 4 nhà kho và một xe vận tải chất đầy, nhưng nếu số lượng nhà kho tăng lên 8 thì khối lượng hàng vận chuyển từ 1 nhà máy về 8 nhà kho có thể sẽ giảm đi và khi đố số hàng vận chuyển sẽ trở nên bé nhỏ trong mạng lưới hệ thống 8 nhà kho. Việc phân tích phải xem xét ảnh hưởng của những thay đổi này.

Điều thứ ba liên quan đến trọng tâm của những phân tích. Trong quá khứ, một số lượng lớn các phân tích thiết kế chuỗi cung ứng tập trung vào vị trí cuả nhà kho. Khi mà mạng lưới vận tải và lưu kho đã tương đối ồn định, sẽ là không cần thiết cho các hàng tiến hành việc phân tích hệ thống vận tải và lưu kho một cách đều đặn, thường xuyên; tuy nhiên tính linh hoạt cảu những lựa chọn chuỗi cung ứng thay thế, sự thau đổi những mức độ chi phí và khả năng cuả những nhà cung cấp dịch vụ tích hợp đòi hỏi rằng mạng lứơi chuỗi cung ứng được đánh giá và sàng lọc thường xuyên hơn. Ngày càng cần thiết hơn vệc phối hợp chiến lược thiết kế chuỗi cung ứng với thiết kế sản phẩm và quy trình đòi hỏi việc đánh giá hàng năm, hàng quý hoặc hàng tháng.

Trong thập kỷ qua đã có sự gia tăng trong cả phạm vi và  sự tập trung vào việc phân tích thiết kế chuỗi cung ứng. Về phạm vi, những phân tích xem xét một phạm vi rộng hơn của những thành viên chuỗi cung ứng, bao gồm các nhà cung cấp hàng hóa, nhà cung cấp, nhà sản xuất, nhà phân phối và những nhà bán lẻ. về lĩnh vực tập trung, những phân tích thiết kế chuỗi cung ứng đang di chuyển từ việc tối thiểu hóa chi phí hướng tới việc tối đa hóa lợi nhuận hoặc doanh thu trên tài sản. Những thiết kế tối ưu hóa lợi nhuạn xem xét cả doanh thu quan trọng như chi phí và được thiết kế để phân bố những sản phẩm sãn có và những nguồn lực tới những khách hàng lợi nhuận cao nhất. Những thiết kế nhằm tối đa hóa lợi nhuận trên tài sản hướng đến những lựa chọn có thể dẫn đến chi phí biến đổi cao hơn nhưng sử dụng ít tài sản hơn thông qua thuê ngoài hoặc các nhà cung cấp dịch vụ. Kết quả của việc tăng những cơ hội do toàn cầu hóa, thuê ngoài và hợp nhất các tổ chức, chia sẻ dịch vụ và thay đổi của chi phí tương đối, phân tích liên tục của chuỗi cung ứng đang trở nên thường xuyên hơn.

Những quyết định về hàng lưu kho

Những quyết định về phân tích hàng lưu kho tập trung vào việc chỉ ra các thống số về quản lý hàng lưu kho tối ưu để đáp ứng mức độ dịch vụ mong muốn với mức đầu tư thấp nhất. Các thông số về lưu kho chỉ ra mức lưu kho an toàn, những điểm đặt hàng lại, số lượng đơn đặt hàng và các chu kỳ đánh giá cho cơ sở vật chất cụ thể và sự kết hợp các sản phẩm. Việc phân tích này có thể được thiết kế để điều chỉnh chỉ số theo dõi hàng kho định kỳ hoặc hằng ngày. Việc sàng lọc hàng ngày làm cho những thông số nhạy cảm hơn những thay đổi về môi trường như mức độ nhu cầu hoặc độ dài của chu kỳ hoạt động, tuy nhiên chúng cũng làm căng thẳng hệ thống quản lý hàng lưu kho không vững chắc. Sự căng thằng của hệ thống gây nên những luân chuyển và lưu kho của rất nhiều các lô hàng nhỏ.

Việc phân tích hàng lưu kho tập trung vào những quyết định được thảo luận trong chương 7. Những câu hỏi cụ thể bao gồm: (1) có bao nhiêu sản phẩm nên được sản xuất trong suốt chu kỳ sẩn xuất tiếp theo?, (2) những nhà kho nào nên duy trì lượng lưu kho của mỗi mặt hàng hiện có? (3) những hàng hóa có tốc độ luân chuyển chậm có nên được tập trung lại không? (4) quy mô tối ưu của những đơn đạt hàng bổ sung (số lượng về số đơn đặt hàng)? (5) những điểm đặt hàng lại cần thiết cho các đơn đặt hàng bổ sung (quyết định lưu kho an toàn).

Có 2 loại phương pháp để đánh giá và lựa chọn từ những cách thức quản lý hàng lưu kho: phân tích và mô phỏng.

Kỹ thuật phân tích lưu kho

Hình 11.7: Tổng quan hệ thống quản trị hàng dự trữ

Phương pháp phân tích lưu kho tân dụng những mối quan hệ chức năng như thảo luận trong chương 7 để xác dịnh những chỉ số lưu kho lý tưởng dựa trên mức dịch vụ mong muốn. Hình 11.7 minh họa cho khái niệm về phân tích hàng lưu kho.

Kỹ thuật này sử dụng những mục tiêu dịch vụ, những đặc điểm về nhu cầu, những đặc điểm  về chu lỳ hoạt ododnjg và những đặc điểm của hệ thống vận tải và lưu kho như đầu vào để tính toán những chỉ số lưu kho tối ưu. Từ góc độ quản lý hàng lưu kho, những mục tiêu về dịch vụ thường được định nghĩa trong các trường hợp tỷ lệ đơn hàng được thực hiện. Những đặc điểm về nhu cầu mô tả các độ lệch trung bình và tiêu chuẩn định kỳ đối với nhu cầu của khách hàng. Các đặc điểm về chu kỳ thực hiện mô tả độ lệch chuẩn và trung bình đối với các chu kỳ thực hiện đặt hàng.  Các đặc diểm của hệ thống vận tải lưu kho mô tả số lượng những giai đoạn phân phối hoặc những quyết định quản lý hàng lưu kho theo yêu cầu cấp bậc. Kỹ thuật kiểm kê ohaan tích dựa trên những giả định miêu tả các cấp bậc của hệ thống vận tải lưu kho và các xác suất liên qan đến nhu cầu và đặc điểm của chu kỳ hoạt động. Các mối quan hệ về xác suất, cùng với các mục tiêu cấp đôk dịch  vụ xác định thông số quản lý lưu kho tối ưu về mặt số lượng đơn đặt hàng bổ sung và những điểm đăt hàng lại. Có rất nhiều ví dụ về các ứng dụng phần mềm vẫn tồn tại và sử dụng kỹ thuật phân tích để chỉ ra các chỉ số quản lý hàng lưu kho tối ưu.

Ưu điểm cảu những kỹ thuật phân tích hàng lưu kho là khả năng  xác định trực tiếp những chỉ số lưu kho tối ưu, những giả định chắc chắn liên quan tới môi trường hoạt động. Mặt khác, các kỹ thuật phân tích hàn gluu kho được giới hạn về độ chính xác khi những giả định không dược đáp ứng. Ví dụ, vì hầu hết các kỹ thuật kiểm kê phân tích cho rằng nhu cầu phân phối  bình thường và những chu kỳ hoạt động, những kỹ thuật sẽ mất đi độ chính xác khi định hình nhu cầu thực tế hoặc các chu kỳ hoạt động có sai lệch so với những giả định bình thường. Tuy nhiên, các kỹ thuật phân tích hàng lưu kho thị trường là một nơi tốt để bắt đầu khi nỗ lực chỉ ra những thông số lưu kho tối ưu.

Những kỹ thuật lưu kho mô phỏng

Hình 11.8: Tổng quan mô phỏng quản trị hàng dự trữ

Phương pháp tiếp cận mô phỏng hàng lưu kho tạo ra mô hình toán học và xác suất của môi trường hoạt động vận tải và lưu kho khi nó thực sự tồn tại. Như hình 11.8 minh họa, cách tiếp cận mô phỏng tương tự với việc tạo ra một môi trường thí nghiệm cho mạng lưới chuỗi cung ứng và những chính sách hoạt động. Sự mô phỏng tương tự nhu cách tiếp cận kỹ thuật phan tích ở trên ngoại trừ vai trò của nhữn chỉ số lưu kho và các mức độ dịch vụ được đảo ngược.

Trong mô phỏng, các thông số hàng lưu kho chẳng hạn như số lượng đơn đặt hàng và sắp xếp lại các điểm để được kiểm tra trở thành những thông tin đầu vào cho hoạt động mô phỏng. Các đầu vào này xác định môi trường để tiến hành kiểm tra. Các đầu ra mô phỏng chính là các cấp độ dịch vụ và những đặc điểm hoạt động hàng lưu kho của môi trường thử nghiệm. Việc mô phỏng trong thực tế đánh giá hiệu quả hoạt động của một tình huống cụ thể. Nếu việc thực hiện báo cáo không đạt được những mục tiêu mong muốn, các thông số hàng lưu kho phải được thay đổi và một môi trường mới sẽ được mô phỏng. Thỉnh thoảng cần thiết phải hoàn thiện một số những mô phỏng đẻ chỉ ra sự kết hợp của những chỉ số lưu kho đạt được những hiệu quả mong muốn,

Lợi ích kỹ thuật mô phỏng là khả năng mô hình hóa một loạt các môi trường chuỗi cung ứng mà không phải yêu cầu những giả định đơn giản hóa. Có thể mô phỏng chính xác bát cứ môi trường chuỗi cung ứng nào bằng cách kết hợp những đặ điểm của mạng lưới và những chính sách hoạt động. Sự thiếu hụt lớn cảu những kỹ thuật mô phỏng là khả năng giới hạn của chúng để tìm kiếm và chỉ ra những giải pháp tối ưu. Trong khi có những ví dụ về mô phỏng hàng lưu kho kết hợp với các thuật toán tìm kiếm, chúng bị giới hạn về khả năng và phạm vi. Có những dấu hiệu cho thấy việc mô phỏng đang ngày càng phổ biến khi các hãng nõ lực hiểu được tính linh hoạt của việc lưu kho trong kênh phân phối.

Những ứng dụng của việc hỗ trợ quyết định lưu kho đang ngày càng quan trọng vì sự tập trung vào mức tồn kho hợp lý để giảm tải cơ sở vật chất cho vận tải và lưu kho. Nhu cầu cho các thông ố lưu kho được sàng lọc kỹ càng hơn làm tăng nhu cầu sử dụng những kỹ thuật phân tích phức tạp. Những hãng phần mềm đã đáp ứng lại bằng cách phát triển các ứng dụng tích hợp và cả các ứng dụng đơn lẻ.

Những quyết định về vận tải

Việc phân tích vận tải tập trung vào việc phân luồng và lên kế hoạch cho các phương tiện vận tải để cải thiện các phương tiện và tận dụng tối ưu các lái xe trong khi vẫn đáp ứng được các yêu  cầu dịch vụ của khách hàng. Các quyết định về vận tải có thể được mô tả như là chiến lược hoặc chiến thuật. Những quyết định vận tải chiến lược liên quan đến việc phân bổ nguồn lực trong dài hạn, ví dụ như những giai đoạn thời gian kéo dài. Vì vạy, những quyết định phân luồng chỉ ra những tuyế đường vận tải cố định có thể được sử dụng nhiều tháng hoặc nhiều năm. Những quyết định vận tải chiến lược liên quan đến phân vổ nguồn lực ngắn hạn như là cá tuyế đường hàng tuần, hàng ngày. Mục tiêu cảu việc phân tích vận tải là để tối thiểu hóa việc kết hợp những phưong tiện, thời gian và khoảng cách được yêu cầu để phân phối sản phẩm. Những câu hỏi phân tích vận tải chín hbao gồm: (1) làm thế nào cho việc giao hàng được nhóm lại để hình thành nên các tuyến đường vận chuyển?, (2) các chuỗi cung ứng tốt nhất để phục vụ khách hàng là gì? (3) những tuyến đường nào cho phương tiện nào? (4) loại phương tiện tốt nhất để phục vụ các loại hàng khác nhau là gì? (5) những thứ tự giao hàng nào nên được sử dụng để đáp ứng được thời gian quy định nghiêm ngặt bởi khách hàng? Hình 11.9 minh họa cho một định tuyến đặc trưng hoặc một vấn đề giao hàng. Các nhà kho hàng đại diện cho vị trí điểm khởi hành cho tất cả các phương tiện phân phối và một điểm dừng đại điện cho điểm khởi hành trung tâm của tất cả các phương tiện phân phối và mỗi điểm dừng đại diện cho một địa điểm của khách hàng, chẳng hạn như nhà bán lẻ.

Những kỹ thuật phân tích vận tải

Việc định tuyến và phân tích lịch trình đã được nghiên cứu sâu cho việc lập kế hoạch điều hành và chiến lược chuỗi cung ứng. Chúng đặc biệt quan trọng cho hãng tham gia vào chuỗi cung ứng thông qua hoàn thành một phần hoạt động phân phối, ví dụ như bao gói hoặc phân phối nước giải khát. Những ký thuật có thể được phân loại dựa trên phương pháp tiếp cận theo thời gian, những tiếp cận chính xác, những tiếp cận trương tác và những tiếp cận kết hợp.

Hình 11.9: Lập tuyế đường vận chuyển điển hình và vấn đề trong giao hàng

Cách tiếp cận về thời gian tận dụng những nguyên tắc về phân nhóm hoặc các kỹ thuật tiết kiệm để phá triển các tuyến đường bằng cách thêm vào tuần tự hoặc xóa đi những điểm dừng. Một cách chính xác hoặc tối ưu những cách tiếp cận này sử dụng những chương trình toán học tuyến tính để chỉ ra những tuyến đường tốt nhất. Trong lịch sử, những phương pháp giải quyết tối ưu đã được tính toán quá phức tạp thạm chí với những máy tính nhanh nhất, nhưng hiện nay những tiến bộ chương trình toán học đã nâng cấp khả năng của chúng. Những khó khăn cính với những quy trình chính xác nhất là (1) số lượng lớn các hạn chế và những biến cần thiết đê đại diện cho những tuyến đường cơ bản và  những vấn đề vè lịch trình và (2) tác động của quy mô này tới thời gian tính toán và không gian lưu trữ vi tính.

Phương pháp tiếp cận tương tác sử dụng một kết hợp của sự mô phỏng, công cụ tính toán chi phí hoặc các công cụ đồ họa để hỗ trợ quá trình ra quyết định tương tác. Người ra quyết định sẽ chỉ ra những  giải pháp khác nhau để đánh giá. Hệ thống hỗ trợ ra quyết định tương tác sau đó xác định và lên kịch bản cho các tuyến đường và đánh giá những đặc diểm hoạt động về điều khoản thời gian và chi phí. Người ra quyết định sau đó đánh giá tương tác tính hiệu quả của mỗi giải pháp thay thê và sàng lọc những chiến lược cho tới khi không có cải tiến nào thêm nào nữa. Những hạn chế rõ ràng cảu những tiếp cận theo quan điểm tương tác là sự phụ thuộc vào kỹ năng và khả năng của người ra quyết định, đặc biệt về quy mô của vấn đề và tính phức tạp được gia tăng.

Sự kết hợp cảu cả ba cách tiếp cận đã được chứng minh rất hiệu quả. Hai tiêu chí quan trọng để đánh giá những cách tiếp cận này là tính khái quát và tính chính xác. Tính khái quát là khả năng kết hợp có hiệu quả các phần mở rộng cho những tình huống đặc biệt, ví dụ như xe bán tải và phân phối, nhà kho đa chức năng, rào cản về thời gian, thiết bị vận tải và thời gian lái xe hợp pháp trong môi trường thực tế.

Sự chính xác nói đến khả năng đáp ứng những đặc điểm về hiệu suất hoạt động gần nhất và kết quả gần đén một giải pháp tối ưu. Sự chính xác chỉ ra mức độ và độ tin cậy trong việc tiết kiệm có thể như một kết quả của việc giảm chi phí hoạt động của những phương tiện vận tải, dich vụ khách hàng tốt hơn và cải thiện năng suất. Có rất nhiều ví dụ về những gói giải pháp lập kế hoạch vận tải và lộ trình vận tải dùng trên máy tính.

Những yêu cầu về phân tích dữ liệu vận tải

Việc phân tích vận tải yêu cầu 3 loại dữ kiệu: mạng lưới, nhu cầu phân phối hoặc xếp dỡ hàng và những đặc điểm về điều hành. Mạng lưới chỉ ra tất cả những tuyến đường có thể và là xương sống của bất cứ hệ thóng định tuyến vận tải nào. Trong một vài trường hợp, một mạng lưới được chỉ ra bằng cách sử dụng những bản đồ đường phó của những khu vực phân phối. Mối điểm giao cắt là một nút và những con phố trở thành những đường kết nối. Mạng luơi bao gồm những đường kết nối giữa các nút, khoảng cách những con đường, thời gian chuyển tải và những hạn chế đặc thù ví dụ như giới hạn về trọng lượng hoặc lệ phí cầu đường. Một mạng lưới ở cấp đường phố là rất chính xác và tin cậy, đặc biệt khi có những rào cản như sông ngòi hoặc núi đồi. Sự thiếu hụt của một mạng lưới cấp độ đường phố sẽ mất nhiều chi phí để phá triển và duy trì. Một cách tiếp cận khác đó là đặt các khách hàng vào những mạng lưới rồi tính toán các phương án kết nối giữa các khách hàng với nhau. Trong trường hợp này, hệ thống kinh độ và vĩ độ được sử dụng. Việc sử dụng hệ thống vệ tinh định vị toàn cầu đã giúp cho xác định vị trí các mạng lưới và những tuyến đường khả thi. Hệ thống định vị toàn cầu cũng hữu ích trong việc cung cấp chỉ dẫn đường cho những lái xe.

Những dữ liệu về nhu cầu chỉ ra nhừn khách hàng có nhu cầu về giao và nhận hàng mang tính định kỳ. Với những phân tích chiến lược và dài hạn, nhu cầu được hiểu là số lần giao hàng hoặc nhận hàng bình quân trong một chu kỳ nhất định của một khách hàng. Những tuyến đường sau đó được tạo ra dựa trên nền tảng của những phân tich nhu cầu như vậy. Đối với những phân tích định tuyến chiến thuật, nhu cầu nói chung sẽ đại diện cho những đơn hàng được lên lịch trình cho việc phân phối trong một giai đoạn được lập kế hoạch cụ thể, ví dụ như hàng ngày. Việc phân tích chiến thuật cho phép những tuyến đường được thiết kế chính xác cho những yêu cầu về phân phối và tuyệt đối chắc chắn.

Các đặc điểm hoạt động chỉ ra số lượng phương tiện, giói hạn cảu mỗi phương tiện, hạn chế của người lái xe và chi phí hoạt động. Những giới hạn của phương tiện vận tải bao gồm nhữn gquy định về khả năng và trong lượng cũng như những rào cản về vận tải như những yêu cầu về bến bãi. Những rào cản về lái xe bao gòm thời gian lái và những rào cản về dỡ hàng. Chi phí hoat jdodonj bao gồm chi phí biến đổi và chi phí cố định liên quan tới các phương tiện và người lái xe.

Những phân tích về vận tải cho việc định tuyến vận tải và lên lịch trình sẽ đạt được lợi ích tăng lên bởi vì hiệu quả và tính sẵn sàng của những phần mềm chi phí thấp và sự tăn ggias của nhiên liệu. Rất nhiều hãng tham gia vào hoạt động vận tải hằng ngày đã giảm chi phí vận tải 10 đến 15% thông qua việc sử dụng phân tích vận tải chiến lược và chiến thuật. Khi các khách hàng tiếp tục yêu cầu những đơn đặt hàng nhỏ hơn, việc phân tích vận tải sẽ trở nên ngày càng quan trọng hơn để định tuyến hiêu quả, lên lịch trình và có những quyết định hợp nhất các điểm vận chuyển.

Phân tích các tuyến đường vận chuyển

Một phân tích vận tải và lưu kho nói chung liên quan đến những sự di chuyển cảu vân tải trên những tuyến đường cụ thể. Việc phân tích có thể được hoàn thiện trên một nền tảng cụ thể giữa cơ sở hạ tầng hoặc trên nền tảng vùng rộng lớn hơn. Việc phân tích những tuyến đường tập trung cân bằng của những khối lượng hàng giữa điểm xuất phát và điểm đến. Để tối đa hóa việc tận dụng những phương tiện vận tải, việc di chuyển nên đựơc cân bằng hoặc tương đương theo cả hai hướng. Các tuyến đường có thể bao gồm 2 hoặc nhiều điểm như hình 11.10. Các tuyến đường có  vận chuyển hình tam giá có gắn kết hợp sự di chuyển giữa ba điểm bằng cách dii chuyển những kết hợp của nguyên vật liệu và sản phẩm cuối cùng giữa nhà cung cấp, nhà sản xuất và khách hàng.

Việc phân tích làn đường vận chuyển bao gồm cả các chuyến hàng giữa các điểm. Mục tiêu là chỉ ra sự mất cân bằng ở các tuyến đường vận chuyển và chính điều này tạo nên cơ hội cho việc cải thiện hiêu quả vận tải và lưu kho. Khi chính sự mất cân bằng về tuyến đường được chỉ ra, những nỗ lực về quản lý để chỉ ra khối lượng có thể được vận chuyển theo hướng còn chưa tối ưu. Điều này có thể được hoàn thiện bằng cách chuyển đổi những đơn vị vận chuyển hoặc hình thức vận chuyển, di chuyển khối lượng hàng tới hoặc từ các đội tàu tư nhân, tăng vận chuyển nguyên liệu thô, hoặc tạo nên một lien minh với những chủ tàu. Ngược lại, khối lượng vận chuyển theo hướng bị quả tải có thể được chuyển đổi tới các nhà vận chuyển hoặc các chủ tàu hoặc các nguồn khác từ mọt địa điểm thay thế.

Bảng 11.6: Phân tích tuyến hàng dựa trên mức độ hoạt động hàng tháng

Điểm xuát phát

Điểm đến

Tải trọng

Số lần vận chuyển

Detroit

Chicago

8740

23

Chicago

Cincinnati

5100

17

Cinncinnati

Detroit

2000

8

Bảng 11.6 minh họa cho một phân tích chi nhánh chỉ ra rõ ràng sự bất cân bằng của các lô hàng. Người quản lý vận chuyển nên nỗ lực cân bằng tam giác bằng cách nâng cao hơn khối lượng vận chuyển giữa cincinnati và Detroit. Khối lượng vận chuyển có thể được tăng thêm bằng cách di chuyển các nguồn sản phẩm tới Cincinnati hoặc tạo nen một liên minh với một chủ hàng để vận chuyển hàng giữa Cincinnati và Detroit mà không có tuyến ngược lại.

Phân tích hàng lưu kho

Một phân tích hệ thống vận tải và lưu kho chung khác tập trung vào hoạt động lưu kho và sản xuất. Những phân tích hàng lưu kho đặc trưng xem xét những khối lượng hàng bán tương đương và doanh thu của hàng hóa và được thực hiện trên nền tảng ABC, như được thảo luận trong cương 4. Ví dụ bằng cách liệt kê 10 nhóm bán hàng và lưu kho theo thứ tự giảm dần, một nhà quản lý vận tải và lưu kho có thể nhanh chóng chỉ ra những nhóm sản phẩm có ảnh hưởng chính tới khối lượng và mức độ lưu kho. Như đã trình bày trong chương 4, 80% doanh số bán hàng nằm ở khoảng 20% các mặt hàng. Nói chung 80% của lượng hàng lưu kho cũng chỉ chiếm 20% của tổng khối lượng. Nhận biết được những đặc điểm này và những mục tạo nên nhóm sản phẩm là hữu ích trong những nỗ lực hướn đến quản lý hàng lưu kho. Những yếu tố biểu hien cho một cam kết lượng lớn hàng hóa lưu kho cho hoạt động bán hàng có thể được lựa chọn cho những nỗ lực quản lý chuyên sâu để giảm mức độ lưu kho và cải thiện hoạt động.

Bảng 11.7 minh họa cho một báo cáo phân tích lưu kho đặc trưng. Ví dụ này được sắp xếp theo mục hàn gbasn, mặc dù có một vài quy luật để sắp xếp tuần tự báo cáo bằng cách giảm mức độ lưu kho hoặc quay vòng hàng lưu kho. Những mặt hàng với lượng hàng lưu kho cao tương đối hoặc vòng quay thấp nên được tập trung vào việc quản lý.

11.2       . TÓM TẮT CHƯƠNG

Chương này cung cấp một cái nhìn toàn diện về quá trình lập kế hoạch vaanjtari và lưu kho, ra quyết định và kỹ thuật. Nó được thiết ké để hướng dẫn cho những nhà quản lý thông qua quy trình tổng thể của việc phân tích tình huống, chỉ ra phương án thay thế, thu thập dữ liệu, đánh giá số lượng và sự phát triển cuả các đề suất khả thi.

Phương pháp chung cho việc giải quyết các vấn đề vận tải và lưu kho bao gồm ba giai đoạn: định nghĩa vấn đề và lập kế hoạch, thu thập dữ liệu và phan tích, đề xuất và thực hiện. Việc định nghĩa vấn đề và lập kế hoạch liên quan đến đánh giá tính khả thi và lập kế hoạch. Việc đánh giá tính khả thi bao gồm phân tích tình huống, hộ trợ phát triển hệ thống và tính toán chi phí/ lợi nhuận. Việc lập kế hoạch dự án đòi hỏi việc chỉ ra những mục tiêu, rào cản, tiêu chuẩn đo lường, kỹ thuật phân tích và kế hoạch phát triển dự án.

Việc thu thập dữ liệu và phân tích phát triển nhữn ggiar định, thu thập dữ liệu và  hoàn thiện những phân tích về số lượng và chất lượng. Việc phát triển những giả định và thu nhập dữ liệu bao gồm những nhiệm vụ để chỉ ra những tiếp cận phân tích, hợp thức hóa những giả định chỉ ra những nguồn dữ liệu và thu thập và hiệu lực hóa dữ liệu. Bước phân tích bao gồm định nghĩa những câu hỏi phân tích, hoàn thiện việc hiệu lực hóa và những phân tích cơ bản và hoàn thiện những phân tích thay thế và nhạy cảm.

Các khuyến nghị và giai đoạn thực hiện phát triển kế hoach cuối cùng. Bước phát triển đề xuất bao gồm việc chỉ ra và hiêu lực hóa những phương án thay thé tốt nhất. Bước thực hiện chỉ ra nhữn ghành động đề suất, lịch trình phát triển, những yếu tố được chấp nhận và thực hiện cuối cùng theo lịch trình.

 

Việc phân tích những thiết kế chuỗi cung ứng thường xuyên đang trở nên ngày càng quan trọng để đáp ứng sự thay đổi về mức sẵn sàng của những nguồn sản xuất. Để đáp ứng nhu cầu này, những công cụ tối ưu hóa thiết kế chuỗi cung ứng đang ngày càng được sử dụng để hỗ trợ việc phân tích chiến thuật và phân tích chiến lược. Ngày cang nhiều các công cụ chiến thuật như mô phỏng linh hoạt và định tuyến và lập thuật toán lịch trình có thể được sử dụng để điều tra và đánh giá những thay thế về lưu kho vận tải. Tầm quan trọng của việc lập kế hoạch toàn diện và phương pháp phân tích và những công cụ đang tăng lên như một kết quả của nhữnggiải pháp thay thế và tính phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu. Phân tích chiến thuạt quảng cáo như cân bằng các tuyến đường và  phân tích lưu kho ABC phải được  hoàn thiện đều đặn để đáp ứng lại thay đổi trong kỳ vận tải, các luồng hàng và nhu cầu sản phẩm.



Xem tin khác

KẾ HOẠCH MẠNG LƯỚI VÀ TÁC NGHIỆP, GIAI ĐOẠN 3 ĐỀ SUẤT VÀ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH MẠNG LƯỚI VÀ TÁC NGHIỆP, GIAI ĐOẠN 3 ĐỀ SUẤT VÀ THỰC HIỆN..
KẾ HOẠCH MẠNG LƯỚI VÀ TÁC NGHIỆP, Giai đoạn 2 THU THẬP DỮ LIỆU VÀ PHÂN TÍCH KẾ HOẠCH MẠNG LƯỚI VÀ TÁC NGHIỆP, Giai đoạn 2 THU THẬP DỮ LIỆU VÀ PHÂN TÍCH..
KẾ HOẠCH MẠNG LƯỚI VÀ TÁC NGHIỆP, GIAI ĐOẠN 1 ĐỊNH NGHĨA VẤN ĐỀ GIAO VẬN VÀ LẬP KẾ HOẠCH KẾ HOẠCH MẠNG LƯỚI VÀ TÁC NGHIỆP, GIAI ĐOẠN 1 ĐỊNH NGHĨA VẤN ĐỀ GIAO VẬN VÀ LẬP KẾ HOẠCH..
Quản trị chuỗi cung ứng, Phương pháp lập kế hoạch Quản trị chuỗi cung ứng, Phương pháp lập kế hoạch..
KẾ HOẠCH MẠNG LƯỚI VÀ TÁC NGHIỆP KẾ HOẠCH MẠNG LƯỚI VÀ TÁC NGHIỆP..
Thiết kế mạng lưới chuỗi cung ứng, Câu hỏi ôn tập và thảo luận Thiết kế mạng lưới chuỗi cung ứng, Câu hỏi ôn tập và thảo luận ..
loading...
loading...