TÌM KIẾM NÂNG CAO

Upload

Môn kiến thức chung GVC năm 2017 câu 14

                                 https://www.facebook.com/edinsedu/    http://edins.edu.vn/nghiep-vu-xuat-nhap-khau-473.html   

 

                              https://www.facebook.com/edinsedu/    http://edins.edu.vn/nghiep-vu-xuat-nhap-khau-473.html     

 

Câu 14. Phân tích những yêu cầu về mục tiêu, nội dung đào tạo (đại học) trong giai đoạn tới? Câu trả lời: Giới thiệu mục tiêu, nội dung đào tạo đại học; Phân tích những yêu cầu về mục tiêu, nội dung đào tạo đại học giai đoạn tới.

Liên hệ: Cơ sở đào tạo nơi tôi đang công tác luôn bám sát mục tiêu đào tạo và nội dung đào tạo chung đã được đưa ra trong luật Giáo dục, đồng thời, xây dựng chi tiết mục tiêu và nội dung đào tạo cho các cấp đào tạo gắn với đặc thù và thế mạnh của cơ sở. Cụ thể:

Đối với đào tạo trình độ đại học, cơ sở đào tạo nơi tôi đang công tác luôn chú trọng giảng dạy, cung cấp cho sinh viên những kiến thức chung và kiến thức chuyên môn, có gắn kết học đi đôi với hành (thông qua nhiều chương trình thực tế tại các doanh nghiệp), đảm bảo khi ra trường, các em có thể vững vàng và nhanh chóng tiếp cận với công việc. Bên cạnh đó, chúng tôi còn khuyến khích các em tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học, nhằm nâng cao khả năng nghiên cứu, tìm hiểu và giải quyết các vấn đề.

Đối với đào tạo sau đại học, chương trình đào tạo được xây dựng theo hướng không chỉ tăng kiến thức và khả năng chuyên môn; mà còn tăng năng lực nghiên cứu, nghiên cứu sâu các vấn đề liên quan tới chuyên môn, nhìn nhận và có khả năng giải quyết vấn đề ở nhiều cấp độ khác nhau. Nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao, trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế và tác động của cách mạng công nghiệp 4.0, cơ sở đào tạo nơi tôi đang công tác tiếp tục hoàn thiện và hướng tới mục tiêu đào tạo cao hơn, nghiên cứu xây dựng các chương trình đào tạo, phương pháp đào tạo, hình thức đào tạo cho phù hợp với sự chuyển mình của nền kinh tế theo hướng ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin, hệ thống mạng… trong nghiên cứu và giảng dạy.

Trường hợp yêu cầu đánh giá thực trạng mục tiêu và nội dung đào tạo:

Về mục tiêu, trong một thời gian dài, do nhiều nguyên nhân khác nhau, chúng ta chưa chú trọng đúng mức đến việc đặt ra mục tiêu cho nền giáo dục của đất nước, trong đó có giáo dục đại học. Thời gian gần đây, mục tiêu giáo dục đại học ở nước ta có sự thay đổi, như việc xác định quan niệm, mục đích của giáo dục đại học là đào tạo nhân tài (Luật Giáo dục Việt Nam năm 2012). Tuy nhiên, hiểu thế nào là nhân tài thì cho đến nay vẫn chưa có quan niệm thống nhất. Nếu coi nhân tài là người có sáng kiến, có khả năng, năng động, có đóng góp quan trọng vào sự phát triển dù trong lĩnh vực nghiên cứu lý luận hay hoạt động thực tiễn, nghĩa là nhân tài phải là những người nổi trội và hiếm trong xã hội thì mục tiêu này khó đạt được đối với chất lượng thực tế của giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay. Trong thực tế, các trường đại học ở Việt Nam hiện nay, nhiều lắm cũng mới chỉ đủ khả năng trang bị cho người học (sinh viên, học viên hay nghiên cứu sinh…) kiến thức cơ bản, trang bị khả năng phân tích độc lập, dám suy nghĩ và biết suy nghĩ (suy nghĩ có phương pháp - tư duy khoa học). Như vậy, rõ ràng là ngay cả khi chúng ta đổi mới mục tiêu giáo dục đại học thì mục tiêu này cũng không phù hợp với khả năng, cũng như chất lượng thực tế của nền giáo dục đại học trong nước. Trong khi đó, rất nhiều quốc gia trên thế giới và ngay cả các quốc gia có nền giáo dục đại học tiên tiến khi đặt ra mục tiêu giáo dục, họ đều nêu lên những mục đích rất thực tế. Một trường đại học danh tiếng ở Mỹ đã xác định mục tiêu của mình như sau: “Mục đích của môi trường giáo dục và sinh hoạt sinh viên là đào tạo những cá nhân thành đạt và công dân có trách nhiệm. Người tốt nghiệp cảm thấy tự tin trong việc tìm hiểu rộng rãi nhiều vấn đề và kinh nghiệm ở môi trường đại học hay ngoài đời, dù là học bất cứ ngành chuyên môn nào”. Chữ “thành đạt” có thể hiểu là có sự hiểu biết về tri thức cơ bản, được sửa soạn kỹ càng để có thể tự tin vào đời và vào thị trường lao động (kiếm sống cũng như phát triển tri thức). Nhưng mục đích đào tạo thành những “công dân có trách nhiệm” thì được thể hiện rất rõ ràng(3). Với những mục tiêu như thế này, hầu hết các trường đại học ở Việt Nam hiện nay ít đặt ra hoặc chưa thực sự coi trọng, nên cũng là một trong những nguyên nhân góp phần làm giảm chất lượng sản phẩm (người học) sau đào tạo.

Về nội dung, mặc dù những năm qua đã có nhiều cố gắng đổi mới, cải cách nội dung giáo dục ở các cấp học theo hướng tiến bộ hơn, song nhìn chung so với một số nước trong khu vực và trên thế giới, nền giáo dục của nước ta vẫn còn lạc hậu, nhất là nội dung giáo dục ở bậc đại học. Nhìn tổng thể, phần lớn nội dung và chương trình giáo dục các cấp hiện nay ở nước ta đều được biên soạn hoặc chịu ảnh hưởng bởi nội dung, chương trình giáo dục của các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, đặc biệt nền giáo dục Xô-viết. Trong một thời gian dài, những nội dung và chương trình giáo dục này khá phù hợp với nền giáo dục của nước ta và đã mang lại những thành tựu hết sức quan trọng. Tuy nhiên, trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay, nội dung chương trình giáo dục đại học nước ta đang bộc lộ rất nhiều bất cập và hạn chế:

Một là, nội dung kiến thức đào tạo còn nặng về lý thuyết, nhẹ về thực hành, chưa tạo được sự thống nhất gắn mục tiêu giáo dục với mục tiêu tìm kiếm việc làm đối với người học.

Hai là, chưa tạo được sự liên thông giữa các chuẩn mực giáo dục đại học trong nước và quốc tế. Mặc dù được đặt dưới sự quản lý và giám sát chặt chẽ của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhưng trên thực tế, khả năng liên thông kiến thức giữa các cơ sở giáo dục đại học ở nước ta hiện nay còn rất hạn chế, ít thừa nhận và tiếp nhận các kết quả đào tạo của nhau, nên người học rất khó khăn khi chuyển trường, ngành học. Việc liên thông kiến thức giữa các cơ sở giáo dục đại học trong nước và ngoài nước lại càng khó khăn hơn do có sự khác biệt về mục tiêu, nội dung và phương pháp đào tạo giữa các cơ sở giáo dục đại học trong nước và quốc tế (trừ các chương trình liên kết đào tạo theo thỏa thuận). Điều này không những gây khó khăn cho người học khi muốn chuyển đến cơ sở giáo dục ngoài nước, mà ngay cả việc công nhận văn bằng, chứng chỉ của các cơ sở giáo dục trong nước tại các nước mà người học chuyển đến định cư hoặc công tác cũng không phải dễ dàng.

Ba là, chương trình học còn nặng với thời lượng lớn. Thời gian học nhiều nên người học khó tránh khỏi việc rơi vào trạng thái luôn bị áp lực hoàn thành các chương trình môn học, ít có thời gian để tự học, tự nghiên cứu, hoặc tham gia các hoạt động xã hội khác. Nhìn chung, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chương trình giáo dục đại học tại Việt Nam hiện nay tỏ ra bất cập và kém hiệu quả. Đây cũng được coi là nguyên nhân cơ bản khiến nền giáo dục đại học ở Việt Nam đang có xu hướng tụt hậu.



Xem tin khác

Môn kiến thức chung GVC năm 2017 câu 13 Môn kiến thức chung GVC năm 2017 câu 13..
Môn kiến thức chung GVC năm 2017 câu 12 Môn kiến thức chung GVC năm 2017 câu 12..
Môn kiến thức chung GVC năm 2017 câu 11 Môn kiến thức chung GVC năm 2017 câu 11..
Môn kiến thức chung GVC năm 2017 câu 10 Môn kiến thức chung GVC năm 2017 câu 10..
Môn kiến thức chung GVC năm 2017 câu 9 Môn kiến thức chung GVC năm 2017 câu 9..
Môn kiến thức chung Giảng viên chính năm 2017 câu 8 Môn kiến thức chung Giảng viên chính năm 2017 câu 8..
loading...
loading...